Đăng nhập
Thư điện tử
Liên hệ
Thứ Tư, 14/10/2026 9:44:50 CH
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu tổng quan
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Cơ cấu tổ chức
    • Danh bạ Cán bộ, Công chức
    • Hội đồng nhân dân xã
  • Tin tức
    • Công tác xây dựng đảng
    • Mặt trận đoàn thể
    • An ninh trật tự
    • Tin tức sự kiện
    • Thông tin tuyên truyền
    • Cải cách hành chính
    • Nghị quyết vào cuộc sống
  • Chuyển đổi số
  • Tra cứu văn bản
    • Văn bản Quy phạm pháp luật
    • Văn bản Chỉ đạo điều hành
    • Thủ tục hành chính
  • Lịch công tác
  • Phản ánh kiến nghị
  • DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu tổng quan
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Cơ cấu tổ chức
    • Danh bạ Cán bộ, Công chức
    • Hội đồng nhân dân xã
  • Tin tức
    • Công tác xây dựng đảng
    • Mặt trận đoàn thể
    • An ninh trật tự
    • Tin tức sự kiện
    • Thông tin tuyên truyền
    • Cải cách hành chính
    • Nghị quyết vào cuộc sống
  • Chuyển đổi số
  • Tra cứu văn bản
    • Văn bản Quy phạm pháp luật
    • Văn bản Chỉ đạo điều hành
    • Thủ tục hành chính
  • Lịch công tác
  • Phản ánh kiến nghị
  • DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN
Nghị quyết vào cuộc sống
Cập nhật ngày: 25/08/2026 - Lượt xem: 13
Màu chữ Cỡ chữ In bài viết
Thông tin phục vụ biên soạn “Chuyên mục đưa Nghị quyết vào cuộc sống” tuyên truyền trên truyền thanh xã, phường từ ngày 24/8/2026 - 30/8/2026

I. KỶ NIỆM QUỐC KHÁNH 2/9 - MỐC SON CHÓI LỌI TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM[1]

Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Tại châu Âu, Hồng quân Liên Xô phối hợp với quân đội các nước Anh, Mỹ, Pháp, Canađa… liên tiếp giành thắng lợi, giải phóng nhiều quốc gia và tiến vào Béclin.

Ngày 9/5/1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh ở châu Âu kết thúc. Tại châu Á - Thái Bình Dương, quân đội phát xít Nhật rơi vào thế bị bao vây, uy hiếp nặng nề. Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, nhanh chóng đánh bại đạo quân Quan Đông, giải phóng vùng Đông Bắc Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Ngày 14/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai chính thức chấm dứt. Tình hình ấy mở ra một bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Trung ương Đảng nhận định: đây là thời cơ “ngàn năm có một” để Nhân dân ta vùng lên giành lại độc lập trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, thực dân Pháp quay trở lại và các thế lực bên ngoài can thiệp.

Ngày 9/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp khẩn, ra chủ trương phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước rộng khắp. Ngày 12/3/1945, Trung ương ban hành Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, khẳng định: “Đây là thời cơ tốt để nhân dân ta vùng lên giành độc lập”.

Tháng 4/1945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam Giải phóng quân. Ngày 16/4, Tổng bộ Việt Minh chỉ đạo thành lập các Ủy ban dân tộc giải phóng từ Trung ương đến địa phương. Đầu tháng 5/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo toàn quốc. Ngày 4/6/1945, Khu Giải phóng Việt Bắc chính thức được thành lập. Từ giữa năm 1945, cao trào kháng Nhật cứu nước lan rộng, phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần diễn ra mạnh mẽ tại nhiều địa phương trên cả nước.

Khi thời cơ cách mạng đã chín muồi, ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và ngay trong ngày đã ra Quân lệnh số 1, phát động tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.

Ngày 16/8/1945, Quốc dân đại hội họp tại Tân Trào thông qua Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, phê chuẩn Lệnh tổng khởi nghĩa, thống nhất quốc kỳ nền đỏ sao vàng năm cánh, chọn “Tiến quân ca” làm quốc ca, và cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam (tức là Chính phủ Lâm thời cách mạng Việt Nam) do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Cùng thời điểm đó, Người gửi thư kêu gọi toàn dân, nhấn mạnh: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Từ ngày 14/8/1945, tại nhiều địa phương, các cấp bộ Đảng và Việt Minh đã chủ động phát động khởi nghĩa. Ngày 18/8/1945, Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh và Quảng Nam giành được chính quyền ở tỉnh lỵ. Tại Hà Nội, sau cuộc mít tinh và tuần hành lớn ngày 17/8, ngày 19/8 hàng vạn quần chúng cùng các lực lượng cách mạng chiếm những cơ quan đầu não, giành chính quyền về tay Nhân dân. Thắng lợi ở Hà Nội tạo động lực mạnh mẽ cho cuộc tổng khởi nghĩa trên cả nước.

Ngày 23/8/1945, tại Huế, hàng vạn người tiến vào thành phố, chiếm các công sở trọng yếu và giành chính quyền trong hòa bình. Ngày 25/8/1945, cuộc khởi nghĩa thắng lợi tại Sài Gòn - Gia Định. Thắng lợi vang dội tại ba đô thị lớn: Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ. Từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đất liền đến hải đảo - phong trào khởi nghĩa dâng lên như vũ bão. Chỉ trong vòng 15 ngày, từ giữa đến cuối tháng 8 năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi cả nước. Ngày 30/8/1945, vua Bảo Đại tuyên bố thóai vị, chấm dứt hoàn toàn chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố quyền độc lập, tự do, bình đẳng của dân tộc Việt Nam trước thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam, quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - đánh dấu sự mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc: kỷ nguyên độc lập, tự do và làm chủ vận mệnh đất nước.

Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ôn lại thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tưởng nhớ công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ tiền bối cách mạng, anh hùng, liệt sĩ và đồng bào đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Từ niềm tự hào lịch sử, mỗi người Việt Nam tiếp tục bồi đắp lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc và xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

II.  XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM TRỞ THÀNH QUỐC GIA BIỂN MẠNH

Ngày 28/7/2026, Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; trong đó nêu rõ mục tiêu phát triển như sau:

Đến năm 2030, mục tiêu tổng quát là: Xây dựng nền tảng vững chắc để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Hình thành hệ thống quản trị biển quốc gia hiện đại, thống nhất, đồng bộ, dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu số; quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên và không gian biển; từng bước làm chủ biển xa, biển sâu và các không gian phát triển mới trên biển; bảo vệ môi trường, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái biển. Kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao. Đời sống Nhân dân vùng ven biển, hải đảo được nâng cao; văn hóa biển được gìn giữ và phát huy. Quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển được giữ vững; vị thế, uy tín và vai trò của Việt Nam được nâng cao.

Mục tiêu cụ thể: Về kinh tế, phấn đấu tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước. Thu nhập bình quân đầu người các tỉnh, thành phố ven biển cao hơn 1,2 - 1,3 lần bình quân cả nước. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của các địa phương ven biển phấn đấu đạt trên 11%/năm. Phát triển các dự án điện gió ngoài khơi có công suất 6 - 10GW. Thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu do đội tàu biển Việt Nam đảm nhận đạt 20%; chi phí logistics giảm còn dưới 12% GDP. Tốc độ tăng trưởng tổng thu du lịch biển, đảo bình quân 14%/năm. Giá trị sản xuất nuôi biển tăng bình quân 8%/năm; tỉ trọng nuôi biển trong tổng giá trị sản xuất thủy sản đạt 15%. Phát triển không gian biển, hạ tầng biển: Hình thành 5 - 6 trung tâm kinh tế biển mạnh. Hình thành 3 khu kinh tế đặc biệt. Hoàn thành 100% tuyến đường bộ ven biển theo quy hoạch; 100% đảo có vị trí chiến lược, trọng yếu cơ bản được đầu tư hạ tầng thiết yếu đồng bộ.

Về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phấn đấu hình thành 2 - 3 tổ chức nghiên cứu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển dẫn đầu trong khu vực ASEAN. Có 1 - 2 tàu nghiên cứu biển sâu lưỡng dụng. Hoàn thành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về biển. Tỉ lệ số hóa, tích hợp và chia sẻ dữ liệu tài nguyên, môi trường, hạ tầng và hoạt động biển đạt 100% trong hệ thống quản lý nhà nước.

Về quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, phấn đấu hoàn thành 100% phân vùng chức năng biển cho từng ngành, lĩnh vực, địa phương. Diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia. 100% chất thải nhựa ven biển được thu gom, xử lý. 100% các đảo trọng yếu, dân sinh có hệ thống xử lý chất thải rắn và nước thải.

Về văn hóa, xã hội, phấn đấu 100% di sản văn hóa biển được số hóa. Chỉ số phát triển con người (HDI) cao hơn trung bình cả nước. Tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ, có kỹ năng trong các ngành, nghề, lĩnh vực biển đạt trên 45%. 100% cư dân vùng biển, hải đảo được tiếp cận điện, nước sạch, Internet băng rộng và dịch vụ y tế, giáo dục.

Về bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển. Bảo đảm an ninh toàn diện cho Nhân dân và các hoạt động hợp pháp trên biển. 100% công trình, dự án trọng điểm và các công trình biển quan trọng được bảo đảm an ninh, an toàn; 100% địa phương ven biển, các đảo xây dựng và triển khai phương án ứng phó sự cố môi trường biển, thiên tai, nước biển dâng và các thách thức an ninh phi truyền thống. Đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển được đẩy mạnh, vai trò và vị thế Việt Nam trong các cơ chế hợp tác biển và đại dương toàn cầu được nâng cao.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam là quốc gia biển mạnh, giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển; có nền quản trị biển hiện đại, khoa học, công nghệ biển tiên tiến. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân vùng biển, đảo được nâng cao toàn diện; văn hóa biển được bảo tồn và phát huy. Quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển được giữ vững; có vị thế, uy tín và vai trò quan trọng trong hợp tác quốc tế, quản trị biển và đại dương toàn cầu.

III. BAN BÍ THƯ BAN HÀNH CHỈ THỊ VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN

Thay mặt Ban Bí thư, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư ký ban hành chỉ thị của Ban Bí thư về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân (Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 19/8/2026).

Theo Chỉ thị số 12-CT/TW (Chỉ thị), phát triển tổ chức đảng, đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố mối liên hệ giữa Đảng với giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức, doanh nhân và các lực lượng sản xuất mới; bổ sung cho Đảng những quần chúng ưu tú, trưởng thành từ thực tiễn lao động, sản xuất, kinh doanh; tạo môi trường để rèn luyện, cống hiến và trưởng thành.

Theo đó, Ban Bí thư yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo chuyển biến trong nhận thức, thống nhất trong hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chính trị-xã hội, cán bộ, đảng viên, người lao động về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân và ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng đối với sự phát triển của doanh nghiệp.

Hướng dẫn doanh nghiệp, người lao động nắm rõ điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình kết nạp đảng viên; việc thành lập và nguyên tắc hoạt động của tổ chức đảng trong doanh nghiệp. Chú trọng phát hiện, nêu gương, biểu dương và nhân rộng các mô hình tổ chức đảng trong khu vực kinh tế tư nhân hoạt động hiệu quả; khơi dậy tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác, tự nguyện phấn đấu của quần chúng ưu tú để được đứng vào hàng ngũ của Đảng; tạo động lực giúp chủ doanh nghiệp nhận thức rõ tổ chức đảng là nhân tố góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, văn hóa doanh nghiệp, nâng cao vị thế, uy tín, năng lực cạnh tranh và phát triển doanh nghiệp bền vững.

Xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong khu vực kinh tế tư nhân đồng bộ với mô hình tổ chức đảng trong giai đoạn mới, thích ứng với nền kinh tế số và các mô hình sản xuất kinh doanh mới.

Đối với doanh nghiệp đã có đủ đảng viên chính thức nhưng chưa thành lập tổ chức đảng, cấp ủy có thẩm quyền rà soát, hướng dẫn thành lập theo quy định.

Đối với doanh nghiệp chưa có đảng viên, cần tập trung phát hiện, bồi dưỡng quần chúng ưu tú, tạo nguồn phát triển đảng viên. Đổi mới mạnh mẽ công tác tạo nguồn, bồi dưỡng, phát triển đảng viên theo hướng lấy chất lượng, động cơ phấn đấu đúng đắn, phẩm chất, năng lực, uy tín và khả năng cống hiến làm trọng tâm.

Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp chủ động phát hiện, biểu dương, tôn vinh và nhân rộng những tấm gương đảng viên tiêu biểu trong lao động, sản xuất kinh doanh,... lan tỏa những hình ảnh đẹp của người đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân, tạo động lực để quần chúng ưu tú phấn đấu đứng vào hàng ngũ của Đảng.

Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng ở khu vực kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW. Tổ chức xây dựng, cập nhật bản đồ số về tổ chức đảng, đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân.

Tăng cường sự phối hợp của cấp ủy, tổ chức đảng với Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị-xã hội khác trong công tác xây dựng Đảng khu vực kinh tế tư nhân. Tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội đồng bộ với mô hình tổ chức đảng và đặc điểm của từng loại hình doanh nghiệp. Nơi nào chưa có tổ chức đảng thì tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên là lực lượng nòng cốt trong tập hợp, phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu quần chúng ưu tú cho tổ chức đảng.

Hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi để thành lập tổ chức đảng ở những doanh nghiệp đủ điều kiện. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa cấp ủy, tổ chức đảng với hội đồng quản trị, ban lãnh đạo doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp trên cơ sở tôn trọng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bên. Đưa nội dung xây dựng tổ chức đảng, phát triển, quản lý và nâng cao chất lượng đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân vào chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp.

Chỉ thị này thay thế Chỉ thị số 33-CT/TW, ngày 18/3/2019 của Ban Bí thư về tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân.

IV. TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ, LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG, Ý THỨC CÔNG DÂN TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Ngày 18/8, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 227-KH/TU về thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 20/7/2026 của Ban Bí thư về tăng cường giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Theo đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm; tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng

Tổ chức quán triệt, tuyên truyền sâu rộng Chỉ thị số 10-CT/TW bằng các hình thức phù hợp; xác định giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên, gắn với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đưa nhiệm vụ vào chương trình công tác, nghị quyết, kế hoạch hằng năm và kế hoạch năm học; người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả trong phạm vi quản lý.

Tăng cường thông tin chính thống, truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật; chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, nhà giáo và người học; kịp thời định hướng, đấu tranh phản bác thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng.

2. Rà soát, cập nhật, đổi mới nội dung, chương trình, tài liệu và học liệu

Tổ chức rà soát việc thực hiện các môn lý luận chính trị và nội dung giáo dục công dân, lịch sử, văn hóa, pháp luật, đạo đức, kỹ năng xã hội; cập nhật trong phạm vi chương trình, thẩm quyền và hướng dẫn của cơ quan Trung ương, bảo đảm tính chính xác, khoa học, hệ thống, thiết thực và phù hợp với người học.

Kịp thời đưa chủ trương, nghị quyết mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết Đại hội XIV, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và thực tiễn tỉnh Vĩnh Long vào giảng dạy, học tập; làm rõ sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa xây dựng niềm tin và rèn luyện năng lực hành động.

Từng bước có giải pháp tăng nội dung thực hành, trải nghiệm, đối thoại, xử lý tình huống; chú trọng các nhóm phẩm chất, năng lực về bản lĩnh chính trị, lý tưởng cách mạng và khát vọng cống hiến; đạo đức, trách nhiệm xã hội và thượng tôn pháp luật; ý thức công dân, năng lực số và hội nhập quốc tế; lối sống lành mạnh, kỹ năng xã hội và học tập suốt đời.

Triển khai giáo dục lịch sử, văn hóa, truyền thống cách mạng của tỉnh; kiểm soát chất lượng tài liệu tham khảo, học liệu số và nội dung giáo dục trong chương trình liên kết, hợp tác quốc tế theo thẩm quyền. Những nội dung vượt thẩm quyền phải tổng hợp, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét.

3. Đổi mới phương pháp, hình thức giáo dục và đánh giá người học

Đổi mới phương pháp theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực, lấy người học làm trung tâm; kết hợp linh hoạt giữa học trực tiếp và trực tuyến, chính khóa và ngoại khóa, lý luận với thực tiễn; tăng cường ứng dụng công nghệ số, học liệu số và phương pháp giáo dục hiện đại.

Đa dạng hóa hình thức giáo dục, tăng cường đối thoại, thảo luận, xử lý tình huống, hoạt động trải nghiệm; gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành, nói đi đôi với làm.

Trang bị cho người học năng lực số, tư duy phản biện, kỹ năng ứng xử văn hóa, nhận diện và tự bảo vệ trước thông tin xấu độc, lừa đảo và nguy cơ trên môi trường số. Xây dựng môi trường học đường lành mạnh, văn minh, an toàn, nhân văn, kỷ cương.

Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá theo hướng toàn diện, thực chất, chú trọng sự chuyển biến về nhận thức, thái độ, hành vi, ý thức tuân thủ pháp luật và trách nhiệm công dân của người học; không chạy theo hình thức, thành tích.

4. Xây dựng đội ngũ nhà giáo, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục

Rà soát số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng và phương pháp, nhất là năng lực số, năng lực đối thoại, định hướng tư tưởng và tổng kết thực tiễn.

Tổ chức rà soát mức độ đáp ứng chuẩn nghề nghiệp, tiêu chuẩn chức danh, chuẩn năng lực theo quy định; thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách; tổng hợp, đề xuất cấp có thẩm quyền tháo gỡ khó khăn trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và tạo nguồn nhân lực kế cận.

Đề cao đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm nêu gương, liêm chính học thuật và tinh thần tự học; tạo điều kiện để nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục nghiên cứu, đi thực tế, gắn nội dung giảng dạy với nhiệm vụ phát triển của tỉnh.

5. Bảo đảm chất lượng; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh; tăng cường phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội

Cụ thể hóa tiêu chí theo dõi, đánh giá chất lượng phù hợp với hướng dẫn của Trung ương và điều kiện của tỉnh; gắn kết quả thực hiện với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, cá nhân và người đứng đầu.

Thực hiện nghiêm quy tắc ứng xử trong cơ sở giáo dục và trên không gian mạng; xây dựng văn hóa học đường, giữ vững kỷ cương, nền nếp; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn bạo lực học đường, tiêu cực và biểu hiện lệch chuẩn; kịp thời biểu dương điển hình, xử lý vi phạm theo quy định.

Phát huy vai trò của Đoàn, Hội, Đội, gia đình và cộng đồng; tổ chức hoạt động về nguồn, tình nguyện, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, giáo dục truyền thống, lịch sử, pháp luật, quốc phòng và an ninh phù hợp từng địa bàn, đối tượng.

Thiết lập, duy trì kênh phối hợp và trao đổi thông tin giữa nhà trường, gia đình, cơ quan chức năng và cộng đồng; xác định rõ trách nhiệm tiếp nhận, xử lý, hỗ trợ người học, bảo đảm kịp thời và đúng quy định.

6. Đẩy mạnh chuyển đổi số, đảm bảo cơ sở vật chất, học liệu và nguồn lực

Khai thác hiệu quả nền tảng, cơ sở dữ liệu và hệ thống học liệu số dùng chung; tăng kết nối giữa cơ quan quản lý, cơ sở giáo dục, cơ quan tuyên giáo, tổ chức Đoàn, Hội, Đội để cung cấp học liệu chính thống, cập nhật, phù hợp từng nhóm người học.

Xây dựng hướng dẫn sử dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ số có trách nhiệm trong dạy, học và quản lý, nhất là việc kiểm chứng nguồn, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm an toàn thông tin, tôn trọng bản quyền và giữ gìn liêm chính học thuật; không xem công cụ số là nguồn thay thế cho tài liệu chính thống và vai trò định hướng của nhà giáo.

Rà soát cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng số và không gian học tập; ưu tiên địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng xã đảo, cù lao…; huy động nguồn lực xã hội hợp pháp, công khai, minh bạch, không làm tăng gánh nặng cho người học và gia đình.

 

7. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết

Xây dựng tiêu chí theo dõi, đánh giá phù hợp hướng dẫn của Trung ương và điều kiện của tỉnh, đảm bảo công khai, minh bạch, có thể kiểm chứng.

Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện tại cơ sở giáo dục và cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chính trị; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh hạn chế, xử lý nghiêm vi phạm theo quy định; biểu dương, khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích.

Thực hiện chế độ báo cáo hằng năm; tổ chức sơ kết, tổng kết theo chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương và yêu cầu thực tiễn của địa phương.

V. TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC RÀ SOÁT, HỖ TRỢ XÂY DỰNG VÀ SỬA CHỮA NHÀ Ở CHO HỘ GIA ĐÌNH NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG VÀ THÂN NHÂN LIỆT SĨ, HỘ NGHÈO, HỘ CẬN NGHÈO VÀ HỘ CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

Ngày 14/8, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Công văn số 609-CV/TU về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác rà soát, hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà ở cho hộ gia đình người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm sau:

Ban Thường vụ Tỉnh ủy giao Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở, ngành phối hợp chặt chẽ với địa phương tháo gỡ khó khăn về đất ở, thủ tục, quy hoạch và các điều kiện cần thiết; không để có chủ trương, có nguồn lực mà chậm triển khai do thủ tục, đùn đẩy hoặc né tránh trách nhiệm. Tăng cường kiểm tra, kịp thời xử lý nghiêm các trường hợp lập hồ sơ sai thực tế, xác nhận sai đối tượng, gây thất thóat, lãng phí.

Chỉ đạo xây dựng Đề án hoặc kế hoạch tổng thể hỗ trợ nhà ở cho hộ gia đình người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ khó khăn, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở trên địa bàn tỉnh, trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy cho ý kiến.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy giao Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh lãnh đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh sử dụng Quỹ “Vì người nghèo” đảm bảo đúng quy định và phát huy hiệu quả vai trò vận động toàn xã hội, huy động các nguồn lực hợp pháp để hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ đã được thẩm tra đủ điều kiện; tổ chức thực hiện chặt chẽ, công khai, dân chủ, đúng đối tượng, không để kéo dài.

Chủ trì, phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội; hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã giám sát chặt chẽ quá trình xây dựng, nghiệm thu, bàn giao nhà ở, bảo đảm chất lượng công trình và tiến độ đề ra.

Đảng ủy các xã, phường phải xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cấp bách; Bí thư cấp ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tính chính xác, trung thực của kết quả rà soát, hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở, kiên quyết không để xảy ra tình trạng rà soát sai đối tượng, bỏ sót hộ đủ điều kiện, báo cáo không trung thực, buông lỏng quản lý hoặc để xảy ra lợi dụng, thất thóat, lãng phí nguồn lực, xây dựng không bảo đảm chất lượng.

Tăng cường trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện đối với công tác rà soát lại toàn bộ danh sách hộ gia đình người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ khó khăn cần hỗ trợ xây mới, sửa chữa tại địa phương để tập trung chỉ đạo, vận động nguồn lực hỗ trợ; trực tiếp kiểm tra thực tế, công khai danh sách theo quy định, bảo đảm phân loại chính xác giữa nhu cầu xây mới và sửa chữa (đặc biệt là tiêu chí nhà ở bảo đảm “3 cứng”: nền cứng, khung - tường cứng, mái cứng). Trong năm 2026 tập trung rà soát việc hỗ trợ nhà ở cho các hộ thuộc gia đình người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ, hộ nghèo khó khăn về nhà ở, hoàn thành việc khảo sát trước 30/10/2026.

VI. QUY ĐỊNH MỨC THU PHÍ THẨM ĐỊNH TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG

Ngày 15/7/2026, tại Kỳ họp thứ Hai, Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 36/2026/NQ-HĐND ban hành Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thuộc lĩnh vực môi trường trên địa bàn tỉnh. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 25/7/2026.

Quy định áp dụng đối với phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và phí thẩm định cấp, điều chỉnh giấy phép môi trường. Đối tượng áp dụng gồm cơ quan thẩm định; tổ chức, cá nhân đề nghị thẩm định, cấp hoặc điều chỉnh giấy phép môi trường và các đơn vị có liên quan.

Đối với phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, người nộp phí là tổ chức, cá nhân thực hiện dự án đầu tư thuộc nhóm phải lập báo cáo và thuộc thẩm quyền thẩm định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh theo pháp luật về bảo vệ môi trường. Mức thu được quy định là 20,4 triệu đồng cho mỗi báo cáo.

Phí thẩm định cấp giấy phép môi trường được xác định theo hình thức thẩm định và đặc điểm của dự án, cơ sở. Hình thức họp Hội đồng thẩm định có mức phí 15,8 triệu đồng/giấy phép; thành lập Đoàn kiểm tra là 10 triệu đồng/giấy phép. Dự án, cơ sở không phải vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải nộp 7,4 triệu đồng/giấy phép. Phí thẩm định cấp điều chỉnh giấy phép môi trường cũng là 7,4 triệu đồng/giấy phép.

Người nộp phí là tổ chức, cá nhân có dự án, cơ sở phải có hoặc điều chỉnh giấy phép môi trường thuộc thẩm quyền thẩm định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Việc xác định đúng đối tượng và hình thức thẩm định là căn cứ áp dụng mức thu.

Khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến và thanh toán trực tuyến, mức thu bằng 50% mức phí quy định. Chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục trên môi trường điện tử, giảm chi phí, thời gian đi lại và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực môi trường.

Người nộp phí thực hiện nghĩa vụ sau khi nhận thông báo và trước khi cơ quan có thẩm quyền tổ chức thẩm định. Sở Nông nghiệp và Môi trường thu phí đối với hồ sơ thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Toàn bộ số tiền thu được nộp vào ngân sách nhà nước; việc kê khai, quyết toán, quản lý và sử dụng thực hiện theo quy định. Chi phí thẩm định do ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu phí.

Nghị quyết có quy định chuyển tiếp đối với dự án, cơ sở đã nhận thông báo thu phí trước ngày Nghị quyết có hiệu lực. Các trường hợp này tiếp tục thực hiện mức thu theo nghị quyết có liên quan do Hội đồng nhân dân các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long trước đây ban hành.

Nghị quyết đồng thời bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần các quy định trước đây về phí môi trường của ba tỉnh. Mức thu thống nhất tạo cơ sở minh bạch cho công tác thu, nộp và quản lý phí; nâng cao trách nhiệm của chủ dự án, cơ sở trong thực hiện thủ tục môi trường, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

 

                                                                                                                                                                    BAN TUYÊN GIÁO VÀ DÂN VẬN TỈNH ỦY

 

[1] Bản tin Thông tin sinh hoạt chi bộ số 9 của Ban Tuyên giáo Trung ương

Chia sẻ tin này qua Google Plus Chia sẻ tin này qua Facebook Chia sẻ tin này qua Twitter Chia sẻ tin này qua Tumblr

Các tin khác

Chuyên mục đưa Nghị quyết vào cuộc sống (06/10/2026)
Tuyên truyền Nghị quyết từ ngày 24/8/2026 - 30/8/2026 (25/08/2026)
Tuyên truyền Nghị quyết từ ngày 17/8/2026 đến ngày 23/8/2026 (18/08/2026)
Tuyên truyền Nghị quyết từ ngày 03/8/2026 đến ngày 09/8/2026 (06/08/2026)
  • Trang chủ
  • Sơ đồ cổng
  • Thông tin liên hệ
  • RSS
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ UBND XÃ HIỆP MỸ
Người chịu trách nhiệm chính: Thạch Đa Ra - phó chủ tịch Ủy ban nhân Dân Xã
Địa chỉ: Ấp Ô Lắc, Xã Hiệp Mỹ, tỉnh Vĩnh Long
Điện thoại: 02943820444  - Email: vpubndxahiepmy@gmail.com
Lượt truy cập tháng: 2870
Lượt truy cập năm: 42523
Tổng lượt truy cập: 47030
ipv6 ready